Tin tức |

"Chúng tôi chuyển các văn bản pháp luật phức tạp thành quy trình thực hiện đơn giản"

Tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp

Tư Vấn Pháp Luật 30/12/2020 0
tranh-chap-ve-quyen-so-huu-cong-nghiep

Tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp

Ngày 01/09/2020, Công ty X và ông A quyết định thỏa thuận cùng nhau hợp tác để sản xuất ra máy phát điện Z.

Ngày 01/10/2020, Công ty X đăng ký Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho máy phát điện Z), với chủ sở hữu là Công ty X, ông A là tác giả.

Do nhiều mâu thuẫn nảy sinh, ngày 02/10/2020, ông A yêu cầu Công ty X dừng việc đăng ký bảo hộ đối với Máy phát điện Z và cho rằng ông mới là chủ sở hữu.

Phía công ty X lại cho rằng, Công ty mới là chủ sở hữu của Quyền sở hữu công nghiệp này này, vì Công ty X đã thanh toán toàn bộ chi phí (chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của ông A) để ông A mới tạo ra được sản phẩm này.

Như vậy, ai mới là chủ sở hữu của Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp? Hướng giải quyết? Cơ sở pháp luật?

Được biết, trong suốt quá trình hợp tác, giữa Công ty X và ông A chỉ thỏa thuận, trao đổi công việc qua lời nói.

1. Đặt vấn đề:

  • Căn cứ Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ 2005:

“1. Tổ chức, cá nhân sau đây có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:

a) Tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí bằng công sức và chi phí của mình;

b) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác và thỏa thuận đó không trái với quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Chính phủ quy định quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra do sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà nước.

3. Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ được thực hiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý.

4. Người có quyền đăng ký quy định tại Điều này có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp đã nộp đơn đăng ký.”

  • Căn cứ Khoản 2, Điều 15 Nghị định 103/2006/NĐ-CP:

“2. Trong trường hợp văn bằng bảo hộ đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được cấp chung cho nhiều tổ chức, cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 86, khoản 5 Điều 87 và khoản 2 Điều 90 của Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền sở hữu công nghiệp thuộc sở hữu chung của các tổ chức, cá nhân đó. Các chủ sở hữu chung thực hiện quyền sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự.”

Theo đó:

  • Thứ nhất, không bên nào được sở hữu độc quyền KDCN Máy phát điện Z

Ông A muốn một mình sở hữu Quyền sở hữu công nghiệp (kiểu dáng công nghiệp đối với Máy phát điện Z) thì phải chứng minh được rằng Máy phát điện Z này được tạo ra bằng chính công sức và chi phí của ông A, không có sự đầu tư chi phí từ bất kỳ bên nào khác, thì ông A mới là chủ sở hữu duy nhất của Quyền sở hữu công nghiệp này (Điểm a, Khoản 1, Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ 2005).

Tuy nhiên, thực tế ông A đã nhận được các khoản chi phí mà Công ty X chuyển khoản để tạo ra KDCN, tất cả các chi phí để tạo ra KDCN này là hoàn toàn chỉ do một mình Công ty X đầu tư, ông A chỉ bỏ ra công sức mà thôi, do đó, để khẳng định việc chỉ có một mình ông A tạo ra KDCN thì hoàn toàn không có cơ sở.

=> Ông A không thể độc quyền sở hữu Quyền sở hữu công nghiệp là Bằng độc quyền KDCN đối với Máy phát điện Z.

  • Công ty X muốn độc quyền sở hữu KDCN này thì phải thỏa mãn điều kiện là: Công ty X đầu tư chi phí cho ông A tạo ra sản phẩm nhưng phải dưới hình thức là giao việc, thuê việc (Khoản 2 Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ 2005).

Tuy nhiên, mặc dù Công ty X đầu tư chi phí cho ông A nhưng thực tế lại không có văn bản chứng minh rằng đó là chi phí trả cho việc Công ty X thuê hay giao cho ông A tạo ra sản phẩm, do đó, điều này sẽ được hiểu theo nghĩa là các bên hợp tác tạo ra sản phẩm chứ không phải Công ty X giao hay thuê việc.

=> Công ty X không thể độc quyền sở hữu Quyền sở hữu công nghiệp là Bằng độc quyền KDCN đối với Máy phát điện Z.

  • Thứ hai, cả ông A và Công ty X đều là chủ sở hữu của KDCN Máy phát điện Z

Căn cứ theo Khoản 2, Điều 15 Nghị định 103/2006/NĐ-CP thì, ông A và Công ty X một bên bỏ công sức và một bên bỏ chi phí để tạo ra KDCN Máy phát điện Z, thì đều là chủ sở hữu của KDCN này.

  • Ông A và Công ty X đều có quyền đăng ký KDCN

Ông A và Công ty X cùng nhau tạo ra thành phẩm (một bên bỏ công sức, một bên bỏ chi phí đầu tư) thì đều có quyền đăng ký KDCN và đương nhiên, phải có sự đồng ý của bên còn lại (Khoản 3 Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ 2005).

2. Hướng giải quyết:

Hiện tại các bên không muốn hợp tác với nhau nữa, nên có thể giải quyết theo hướng sau:

- Ông A hoàn trả lại tất cả các chi phí đã nhận từ Công ty X trong suốt quá trình tạo ra KDCN, Công ty X rút hồ sơ đăng ký KDCN, quyền sở hữu KDCN này là chỉ thuộc về ông A

- Công ty X trả một khoản phí để mua lại phần KDCN mà ông A bỏ công tạo ra và Công ty X được quyền đăng ký với chủ sở hữu là Công ty X.

3. Nhận xét:

Khi quyết định hợp tác làm ăn, các bên nên có thỏa thuận bằng văn bản trước khi thực hiện, phân chia từng nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, mọi khoản thu chi đều làm theo quy trình, có giấy tờ chứng minh đi kèm….

Cụ thể là đối với việc tạo ra KDCN, các bên nên có 1 văn bản thỏa thuận rõ ràng, bên nào tạo ra sản phẩm, bên nào bỏ chi phí, lúc đăng ký KDCN thì bên nào là chủ sở hữu hay đồng sở hữu, … để tránh xảy ra tranh chấp về sau.

Nội dung tư vấn và quy định được dẫn chiếu trong bài viết này là tại thời điểm tư vấn và có thể không còn hiệu lực tại thời điểm Quý khách hàng đọc bài viết này. Do đó, để được tư vấn chi tiết và hỗ trợ thực hiện, vui lòng liên hệ:

HOTLINE TƯ VẤN:  028 7309 6558 – 090 282 6558

WEBSITE: Thuviendoanhnghiep.vn

EMAIL: info@luatvantin.com.vn