Tin tức |

"Chúng tôi chuyển các văn bản pháp luật phức tạp thành quy trình thực hiện đơn giản"

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI THỰC TẾ PHÁT SINH TỪ VI PHẠM

Tin tức doanh nghiệp 12/04/2019 140
boi-thuong-thiet-hai-thuc-te-phat-sinh-tu-vi-pham

Tình tiết sự kiện:Một công ty Việt Nam (Nguyên đơn - Bên mua) ký Hợp đồng mua bán hàng hóa với một công ty Trung quốc (Bị đơn - Bên bán). Theo nhận định của Hội đồng Trọng tài, “Bị đơn đã vi phạm điều khoản chất lượng hàng hóa theo quy định của hợp đồng”. Từ đó, Hội đồng Trọng tài buộc Bên bán phải bồi thường những thiệt hại thực tế mà Bên mua phải gánh chịu.[1]

            Bài học kinh nghiệm:Trước việc đối tác không thực hiện đúng hợp đồng, doanh nghiệp có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại trên cơ sở Điều 303 Luật Thương mại năm 2005, theo đó “Trừ trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây: 1.Có hành vi vi phạm hợp đồng; 2. Có thiệt hại thực tế; 3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”.

            Để được bồi thường thì phải có thiệt hại và khoản 2 Điều 302 Luật Thương mại năm 2005 Luật thương mại năm 2005 quy định hai loại thiệt hại được bồi thường là tổn thất thực tế và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm: “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”. Trong vụ việc trên, có hai nhóm thiệt hại thực tế đã được Hội đồng Trọng tài chấp nhận và đáng lưu ý:

            Thứ nhất, Hội đồng Trọng tài chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại mà Nguyên đơn phải bồi thường cho đối tác của mình xuất phát từ việc vi phạm hợp đồng . Cụ thể, “do Bị đơn giao hàng không đúng chất lượng làm cho Nguyên đơn không có nguyên liệu sản xuất và sản phẩm để giao hàng hóa cho khác hàng và không có hàng ( CaCl2) để giao cho khách hàng (Cơ sở kinh doanh hóa chất TĐ) nên Nguyên đơn phải bồi thường cho khách hàng số tiền là 4.000 USD (trong đó bồi thường 1.000 USD cho một khách hàng là hội kinh doanh bán lẻ và bồi thường cho Công ty hóa chất MN số tiền là 3.000 USD)  và 62.500.000 đồng cho Cơ sở kinh doanh hóa chất TĐ”. Hội đồng Trọng tài xét rằng: “Nguyên đơn chỉ xuất trình và chứng minh được Biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại kèm Phiếu chi số tiền bồi thường thiệt hại là 62.500.000 đồng cho Cơ sở kinh doanh hóa chất TĐ mà không xuất trình được chứng cứ để chứng minh việc bồi thường cho khách hàng là hộ kinh doanh bán lẻ và bồi thường cho Công ty hóa chất MN là khách hàng của Nguyên đơn. Do vậy, Hội đồng Trọng tài nhận thấy: Việc Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả số tiền bồi thường thiệt hại là 62.500.000 đồng là có căn cứ pháp lý để được chấp nhận; còn việc Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả số tiền bồi thường thiệt hại cho khách hàng là 4.000 USD là không có căn cứ pháp lý để được chấp nhận”. Ở đây, nếu chứng minh được biệc bồi thường cho đối tác là có thật và xuất phát từ việc từ việc vi phạm hợp đồng , doanh nghiệp bị vi phạm được bồi thường khoản tiền này. Do đó, để được bồi thường như một thiệt hại thực tế, doanh nghiệp cần chứng minh thiệt hại này là thiệt hại thực tế. Trong vụ việc, doanh nghiệp bị vi phạm được bồi thường khoản tiền mà doanh nghiệp bồi thường cho đối tác xuất phát từ việc vi phạm hợp đồng. Hướng giải quyết tương tự cũng được vận dụng nếu doanh nghiệp bị vi phạm phải chịu phạt cho đối tác (như phạt vi phạm hợp đồng, phạt cọc).

            Thứ hai, xuất phát từ việc giao hàng không đứng hợp đồng, bên mua không sử dụng được hàng đã nhận nhưng đã phải bỏ ra một số chi phí và những chi phí này cũng được bồi thường. Cụ thể, theo Hội đồng Trọng tài, “Nguyên đơn đã xuất trình được Hợp đồng thuê nhà kho ngày 05/01/2011 kèm Phiếu chi ngày 01/02/2011 thể hiện số tiền 5.000.000 đồng và Phiếu chi ngày 01/03/2011 thể hiện số tiền 5.000.000 đồng để chứng minh cho yêu cầu của Nguyên đơn. Hợp đồng này phù hợp và trùng khớp với ngày nhận hàng của Tờ khai hải quan số 1439 ngày 05/01/2011 là cơ sở để chứng minh giao dịch giữa hai bên có thực hiện. Mặt khác, Hợp đồng thuê nhà kho ký kết ngày 05/01/2011 có thời hạn dưới 6 tháng không có công chứng là không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng Trọng tài có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của Nguyên đươn để buộc Bị đơn thanh toán phí thuê kho bãi cho Nguyên đơn số tiền là 10.000.000 đồng”. Tương tự, vấn theo Hội đồng Trọng tài: “Nguyên đơn đã xuất trình được Hóa đơn GTGT ký hiệu RR/2010N, số 019xxxx ngày 10/01/2011 về phí dịch vụ mở tờ khai hải quan do Công ty TCT phát hành. Hội đồng Trọng tài nhận thấy đây là chứng cứ có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn phải thanh toán số tiền 6.600.000 đồng” và “Nguyên đơn đã xuất trình Hóa đơn GTGT ký hiệu SH/2010N, số 016xxxx ngày 23/01/2011 về cước vận chuyển do Công ty VN phát hành kèm Phiếu chi ngày 23/01/2011 thể hiện số tiền là 10.000.000 đồng. Đây là cước phí vận chuyển hàng hóa từ cảng về kho lưu giữ hàng hóa của Nguyên đơn nên Hội đồng Trọng tài nhận thấy việc Nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền này là có căn cứ pháp lý”.

            Từ vụ việc trên, doanh nghiệp bị vi phạm từ việc vi phạm hợp đồng của đối tác biết được rằng họ bồi thường những thiệt hịa thực tế như tiền bồi thường hay tiền phạt với đối tác khác cũng như chi phí phát sinh liên quan đến hợp đồng bị vi phạm. Tuy nhiên, không phải thiệt hại nào mà bên bị vi phạm yêu cầu cũng được chấp nhận. Chỉ những thiệt hại nào bên bị vi phạm chứng minh trong thực tế và xuất phát từ việc vi phạm hợp đồng mới được bồi thường. Do đó, doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ những chứng cứ để được Hội đồng Trọng tài chấp nhận như vụ việc trên đã cho thấy.

 


[1]Xem Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, Nxb. CTQG 2013 (tái bản lần thứ tư).

Bài viết liên quan